Tác giả Trần Thị Hoa người Huế, đã nghỉ hưu và hiện sống ở Hà Nội.

Hội viên Hội Nữ Trí thức Việt Nam.

Nghề nghiệp của Tác giả là chuyên gia/cố vấn các chương trình đào tạo y khoa/sản nhi và quản lý bệnh viện, viết sách, giảng dạy, chấm luận án và khám chữa bệnh cho những trường hợp bệnh đặc biệt.

Nêu thắc mắc và góp ý về bộ sách cho tác giả qua bacsyhoatran@gmail.com, để đặt câu hỏi mời vào https://suckhoebametreem.edu.vn. Nhận dạng tác giả qua http://www.facebook.com/hoatutin

Những nơi đã từng làm việc và cộng tác:

  • Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, Viện Nhi Thụy Điển (Bệnh viện Nhi Trung ương), Khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Thanh Nhàn, Đại học Y tế Công cộng, Viện Dinh Dưỡng.
  • WHO, UNICEF, UNFPA, UNDP, AusAID and Child Fund, WPF, Care Int... với vai trò là chuyên gia nghiên cứu và điều hành các chương trình đào tạo về sức khỏe trẻ em và sức khỏe sinh sản.

Học vấn:

  • Bác sĩ đa khoa tại Đại học Y khoa Huế (1982) 2 năm cuối học chuyên ngành Nhi khoa.
  • Tiến sĩ Khoa học Y Dược tại Đại học Y Hà Nội (1990) làm luận án về "Điều trị suy dinh dưỡng trẻ em".
  • Sau đại học bảo vệ đề tài "Phương pháp giáo dục y khoa và quản lý y tế" tại School of Medicine, Tulane University (Mỹ), 1996 - 1997.
  • Tu nghiệp Nội Nhi tại Johns Hopkins Hospital và Boston Children Hospital (Mỹ), 2009 và 2014.
  • Thạc sĩ Quản lý Bệnh viện quốc tế tại Nations HealthCareer School of Management gGmbH nonprofit (Đức), 2005 - 2007.
  • Bên cạnh học chính khóa, Bà cũng từng đến các bệnh viện - trường Y hàng đầu của Mỹ (Brigham for Women’s Health, Masachusette General Hopital, Mayo Clinic và Cleveland Clinic), của Đức (Campus Heidelberg University Hospital, Charité Berlin Hospital và Unfallkrankenhaus Berlin) và một số các bệnh viện ở Pháp, Áo, Thụy Điển, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc; đồng thời, nghiên cứu mô hình chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em tại Ấn Độ, Malaysia và Campuchia.

Công trình khoa học và đóng góp trong lĩnh vực giáo dục đào tạo Y khoa:

  • Sách đã xuất bản: Giáo dục và Nâng cao Sức khỏe, Nhà XB Y Học, 1998
  • Nghiên cứu khoa học: 11 công trình về lĩnh vực sức khỏe trẻ em và sức khỏe sinh sản.
  • Giải thưởng khoa học trị giá 43.000 USD do Tập đoàn Samsung trao tặng. Bà đã dùng số tiền này trang bị 2 phòng máy vi tính cho 1.700 sinh viên của Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, giúp các em được tiếp cận sớm với khoa học công nghệ, kịp thời cập nhật những kiến thức mới nhất trong lĩnh vực mà các em đang theo đuổi. Thêm một giải thưởng của Ngân hàng Thế giới (WB) trao đã triển khai đào tạo nhân viên y tế của tỉnh Vĩnh Long và một dự án do Hội Phụ nữ Mỹ cấp đã triển khai đào tạo kỹ năng chăm sóc bà mẹ mang thai tại Đắk Lắk.

Kèm theo đây là đôi dòng tâm sự về tình yêu của bà đối với trẻ em thể hiện qua ý chí học hành và làm việc: "Nếu được hỏi điều gì làm tôi hạnh phúc nhất trong cuộc đời, tôi sẽ trả lời ngay là được học và được làm những việc xuất phát từ tình yêu chân chính. Tự đánh giá mình, tôi thuộc nhóm ham muốn học hỏi và say mê làm việc và thuộc type người "lãng mạn khoa học", nghĩa là trong huyết quản tôi luôn sục sôi một tình yêu mãnh liệt với nhi khoa/sức khỏe trẻ em đến nỗi nó thôi thúc tôi nỗ lực học để vào được chuyên ngành nhi (thời đó tại Đại học Y khoa Huế đề ra tiêu chuẩn học viên muốn đi theo chuyên ngành Nội hoặc Nhi thì phải đạt các điểm chuyên môn trung bình từ 8 điểm trở lên, là mức cao nhất so với các chuyên khoa còn lại). Không dừng ở đây, sau khi làm việc được hai năm với vị trí là trợ lý cho GS. Từ Giấy, tuy ở bên Ông tôi học được nhiều điều hay nhưng tình yêu Nhi khoa của tôi vẫn không phai nhòa. Vì thế, tôi đã xin nghỉ việc để lao vào thi chương trình học tiến sĩ 1 chọi 3 thật là gian khổ chỉ vì tôi muốn trở lại với nhi khoa - lĩnh vực khoa học đã được nung nấu trong tâm trí tôi và kết quả đã không phụ lòng tôi. May mắn thay, trong giai đoạn này tôi gặp được những người thầy, không chỉ là những giáo sư thực thụ mà còn là con người trí thức chính hiệu (GS. Từ Giấy, GS. Lê Thành Uyên, GS. Lê Nam Trà, GS. Trần Quỵ...). Những năm sau đó, tôi đã có cơ hội được mời làm việc cho các tổ chức như WHO, UNICEF, UNFPA, WPF, AusAID... với vai trò chuyên gia. Những nơi này đã đem đến cho tôi cơ hội tuyệt vời là học thông qua làm việc với các chuyên gia hàng đầu trên thế giới, giúp tôi mở rộng kiến thức kinh tế xã hội và tầm nhìn tân tiến lại được học thêm một vùng khoa học sức khỏe sinh sản/bà mẹ trẻ em, mà chung quy cũng nhằm tạo ra những thế hệ trẻ em tương lai khỏe mạnh và phát triển toàn diện. Cũng nhờ làm việc cho UNICEF tôi tìm được học bổng tại Mỹ càng giúp tôi giàu có về tri thức và kích thích tham vọng học hỏi mà vốn đã sẵn trong huyết quản của tôi. Từ đó trong tôi đổi mới thêm nhiều điều cả tầm nhìn lẫn kiến thức tiến bộ và càng tránh xa danh lợi mà vốn đã không màng tới. Cơ hội đến với tôi ở tuổi còn rất trẻ là Viện phó và Phó Giáo sư để từ đó tiến xa hơn nhưng tôi đã bỏ qua. Chung quy là tại tôi không thích đồng thau lẫn lộn trong khi đất nước mình ở thời của tôi đã thế và nay thì thì thau càng nở rộ mà đồng thì càng hiếm hoi".

Bà cũng bộc bạch rằng: "việc học đối với tôi chưa bao giờ có điểm dừng. Tôi luôn nỗ lực giúp các sinh viên/bác sĩ trẻ mở mang tầm nhìn về ngành nghề, chia sẻ kiến thức và học tập có phương pháp để trở thành những thầy thuốc, nhà giáo hay nhà khoa học mẫu mực thì người dân sẽ được nhờ. Hơn nữa, công việc viết sách để phổ cập kiến thức chăm sóc sức khỏe trẻ em và sức khỏe sinh sản cho học sinh sinh viên, nhân viên y tế và người dân lấy phòng bệnh làm đầu, là những việc mà tôi không bao giờ cảm thấy cạn năng lượng".


Hà Nội, tháng 10 năm 2019